Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 15 tháng 8, 2011

GIẢI PHÁP " CAO TỐC"


Trưa nay đang ăn cơm, ngó TV chợt giật mình. VTV của nhà nước chạy chữ to vật báo cho toàn dân biết tính đến hết năm 2010 nợ của nước mình là già 32 tỷ USD.
Húp vội bát nước rau muống luộc cho khỏi nghẹn mà vẫn đắng ngăn ngắt.
NỢ  bằng 1 / 3 GDP còn gì. Tính theo kiểu dân đen èng èng học đại học ra lương 3 tr thì nợ mất 1 tr. Mà đấy là mới tính đến hết năm ngoái, còn năm nay từ đầu năm đến tận giờ giá cả từ mớ rau đến vàng đô la toàn sốt nóng sốt rét đùng đùng thì không biết còn nợ thêm bao nhiêu nữa.
Ông nghị thì bảo lạm phát của ta ít thôi không phải cao nhất vùng.
Bộ trưởng tài chính thì bảo vợ tôi đi chợ cũng kêu lắm.
Mình Ứ phải dân kinh tế tài chính nên miễn bàn đến vi mô  vĩ mô gì đó , chỉ biết chắc đồng tiền đang rớt giá thảm hại khi tiêu bất cứ cái gì. Bảo lạm phát 20 % là tính kiểu vĩ mô, còn gửi xe tối thiểu và đúng giá giờ là 3.000 đ, nghĩa là tăng 50 % so với đầu năm chỉ  2.000đ. Còn chi tiêu kiểu phong bì á, cứ gọi là gấp đôi. Đi thăm người ốm, trước bỏ phong bì 100.ngàn là được, bi giờ mèng phải 200 ngàn, biếu 100 người bệnh ốm thêm.
Nói cho nhanh một câu : tiền đang mất giá, người đang xuống giá không đánh đu được với giá cả thị trường định hướng ngất ngưởng.
Giải pháp nào đây ?
Có một giải pháp tuyệt vời đưa cả nước ra khỏi cơn khó khăn một cách “cao tốc” :
Đó là làm đường sắt cao tốc .
Cái này có một quan chức chính phủ đã nói rồi, kiểu gì cũng phải làm dù quốc hội năm ngoái chưa thông qua.
Năm nay có quốc hội mới với những 38 ông bà nghị doanh nhân ( đại gia ? ) thì tiền nhiều như quân Nguyên, cứ có xây là có tiền, xây đường cao tốc thì tiền càng cao tốc vào túi.
Dân ta sẽ “bà mẹ đi chợ trẻ con đi học bằng tàu cao tốc ( ? )”, chắc chắn sẽ mau chóng thoát ra cái chợ đắt đỏ và trẻ em cũng cao tốc thoát luôn ra khỏi trường vì không đủ tiền đi học.
Mua tàu cao tốc giờ lại rẻ vì sau vụ “tàu cao tốc tàu ” đâm nhau chêt người đang bị thu hồi, mình mua lại chắc rẻ một nửa. Dân ta có truyền thống và năng khiếu sở trường dùng hàng ‘second hand” từ xa xưa , về độ lại con cao tốc tàu mà chạy thì lời to chẳng mấy chốc mà giả hết nợ. Độ tàu cao tốc chắc cũng như độ lại con Wave tàu là cùng, khó gì, thợ mình giỏi lắm. Có chi tiết nào gốc Nhật bị tàu hóa hay in chữ nho thì tận dụng nhân công tàu nhập lậu giá rẻ theo tiêu chí “ nhân công ngoại giá nội” bảo nó dịch ra tiếng ta để còn biết mà sửa.
Nhân tiện, làm luôn đường sắt cao tốc lên tận Đồng Đăng, thay đường sắt khổ nhỏ bằng đường sắt khổ to liền tịt với đường sắt tàu rồi cãi nhau đòi lại mấy trăm mét bị mất hồi xưa khi để nó nối ray vào sâu đất mình.
Nếu mình có vốn sẵn hay đi vay được ODA lãi thấp của Nhật thì mang gửi tiết kiệm ăn lãi cao hơn, còn cứ vay ngân hàng tàu mà làm khỏi cần thế chấp, chỉ tín chấp bằng 16 cái gì vàng đấy. Làm xong đường sắt cao tốc ngon lành thì mình xù nợ. Nó đòi thì mình bắt phải trả Hoàng Sa thì trả nợ cao tốc.
Thời buổi này, làm ăn kinh tế là cứ phải liều và không theo bất cứ quy luật bài bản nào mới thắng được, phải không ạ. Chứng minh ? / : Hồi mới mở chứng khoán, báo của ta đã giật tít kiểu giáo sư bảo không chơi , bà bán  nước đầu ngõ không biết gì cứ chơi, kêt quả bà ấy thắng to mua được ô tô, còn giáo sư thì tất nhiên là không chơi thì thiệt, cái gì cũng thiệt chả cứ chứng khoán.
Cái giải pháp này có được dự xét Giải thưởng Nhà nước không ạ ?


Ai biết thủ tục mách với, đội ơn nhiều nhiều , vì ở xứ mình, thủ tục quan trọng nhất, công trình giá trị mấy mà sai thủ tục thì vẫn trượt từ bãi gửi xe.

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2011

TRUYỆN KIỀU VÀ THỜI ĐẠI @

Đã có một cuộc bút chiến trong văn học sử không phân thắng bại nhưng để lại một câu văn nổi tiếng :

“ Truyện Kiều còn,tiếng ta còn. Tiếng ta còn , nước ta còn “.
Câu nói cực thậm xưng dùng cãi nhau chứ đúng sai phải để thời nay xét đoán và từ đó rút ra một chút gì hữu ích.

Bảo Truyện Kiều là tuyệt tác của cụ Nguyễn Du thì đã hẳn, nhưng bảo Truyện Kiều là tuyệt tác của văn học Việt đến mức còn tác dụng giữ nước thì sai to.
Thanh tâm tài nhân-Đoạn trường tân thanh- KimVân Kiều truyện , từ tư tưởng tác phẩm đến bối cảnh câu chuyện, nhân vật, sự kiện , địa danh, điển tích toàn là chuyện bên tàu “ năm Gia Tĩnh triều Minh”. Túm lại 1 câu toàn bộ nguyên vật liệu là hàng tàu nhập khẩu. Cái này nó ám vào nước ta đến tận giờ và ăn sâu vào cảm tính người Việt đến độ không mấy ai thử đặt một câu hỏi lộn trái cái túi càn khôn văn học-văn hóa ra xem trong ấy có cái gì, hay dở thế nào.
Nó ăn sâu đến độ những câu Kiều nghiễm nhiên thay thế , chiếm chỗ ca dao tục ngữ thuần Việt và được tiêu dùng tiện lợi hàng ngày khi xử thế triết lí vặt kiểu như “ chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.
Nó “ ghế trên ngồi tót sỗ sàng” trong gia sản văn học Việt vốn đã nghèo nàn còn bị chính cái triều Minh ấy cướp bóc triệt hạ đến mức không nhìn ra bộ mặt văn học VN thời viết bằng chữ Hán chữ Nôm.

 Đàn bà nước ta gấu lắm chứ có đâu lại để cái nhà chị Kiều thay mặt, kể cả đi thi hoa hậu hoàn vũ. Hai bà Trưng khởi nghĩa chiếm 40 thành của thiên triều, nói theo ngôn ngữ bây giờ , hai bà răng đen mũi tẹt chiếm bố nó cả Kuang Tung, Kuang Si ( Quảng Đông , Quảng Tây ) mà lại được dân tình người Hán gốc Việt ( Bách Việt ) hoan nghênh lập đền thờ nhiều nơi , còn hương khói đến tận bây giờ. Trong khi truyện Kiều là thân phận nữ nhi của xã hội trọng nam khinh nữ mà số phận “thăng tượng giáng cẩu”. Mở ngoặc giải thích tí, câu này là cho tàu văn mượn  thành ngữ tiếng Việt đó nha. Cái cô Kiều này phản kháng xã hội rất chi là tiêu cực “ được làm vua thua làm gái”; nói tiêu cực vì ăn may ăn theo Từ Hải được ngồi ghé ghế "first lady " cũng không xong vì “ngẫn “mà xui dại chồng đầu tư vào “con Hồ Tôn Hiến-index” nên sập 50 % sàn chứng khoán nhà Minh.
Tiêu cực hơn , khi thất cơ lỡ vận chỉ biết “ thanh lâu hai lượt thanh y hai lần”. Nghĩa là chẳng biết dũng cảm hay chăm chỉ đổi phận,  chỉ biết đi làm cô đầu nhà thổ hay làm Osin cho nó nhanh. Tư tưởng tác phẩm kiểu tàu này mà mang dạy cho bọn trẻ có mà họa. Mà hình như cũng họa rồi đấy khi có thành tích vượt chỉ tiêu chị em đi xuất khẩu sang Đài, sang Hàn có quota và sang tàu , sang Cămpuchia theo đường tiểu ngạch và buôn lậu.
 Chỉ cần so với “ ví đây đổi phận làm trai được, sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu “ của bà  chị “Hương – nôm” thì đã thấy cô Kiều đã truội ra khỏi cái tinh thần của một đất nước thờ Mẫu.
Vui nhất là nhân vật Linda Kiều trong truyện tranh báo Tuổi trẻ cười. Cô này mang theo “bản sắc kiều” được chuyển thể cải lương nhạc Pop , đá qua 1 tí “cô Kếu tân thời” Nguyễn Công Hoan,  chuyên trị mài cái nhan sắc của mình ra mà kiếm sống nhưng vẫn nhơn nhơn chảnh và sành điệu ,  chả có tí cốt cách khỏe mạnh của người đàn bà nước Nam sở trường nuôi chồng con ăn học , giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh.
Nói nàng rồi thì phải nói chàng. Bao nhiêu nhân vật nam giới trong Kiều đều chán đời cả. Được mỗi ông anh Từ Hải có vẻ anh hùng nghĩa khí lại mắc bệnh dại gái, lại là gái lầu xanh mà bàn việc quân cơ thì chết đứng là phải. Chết đứng cho oai 1 tị ra cái điều chết anh dũng bất khuất nhưng khi có tí hơi vợ thì lập tức đổ kềnh. Hồ Tôn Hiến thì rõ cái mặt của quan chức tàu, vừa hèn hạ vừa thâm hiểm trí trá, mượn cả tay đàn bà để lừa người mà đánh úp. Còn lại, tất cả hội văn nhân Kim Trọng , Thúc Sinh , Vương Quan…chỉ là lũ ăn hại, chữ nghĩa văn chương chỉ để ngâm vịnh tán gái lừa gái, chả làm được tích sự gì. Bài học của hội này chỉ dạy cho người ta cái nhu nhược bất tài “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”, cứ quanh quanh với mỗi cô Kiều mà không xong nổi việc gì.

Một bức tranh tổng thể Truyện Kiều như vậy, thì giá trị đích thực là ở đâu ?

Nói nôm ra  thì cụ Nguyễn Du có cái tuyệt tài xử dụng licence và nguyên vật liệu “ xách tay” hàng tàu về (nhân chuyến đi sứ), để cover  lại hoàn toàn bằng tiếng Việt rất xuất sắc, tỷ lệ “nội địa hóa” đạt 100 % và thỏa mãn tối ưu thị hiếu và thị trường văn học , văn hóa người Việt. Vì thế, Truyện Kiều giống như thần tượng bà Quan Âm hay ông Di lặc ( gốc tàu ) được bàn tay tài hoa VN, dùng gỗ mít , sơn ta, vàng quỳ mà chạm khắc sơn son thếp vàng thành ra tượng phật tượng thánh trong tín ngưỡng , văn hóa và dân gian Việt.

Còn cái mệnh đề ‘tiếng ta còn, nước ta còn “, cũng phải ngẫm lại,khi cái tiếng ta-Kiều người thì bảo là dâm thư, kẻ lại “lạy tiên Thúy Kiều” mang ra để xem bói thì ám quẻ cho dân ta mất rồi, chả có tinh thần đoàn kết dân tộc gì cả.

Sang thế kỷ @, cái gì còn lại của Kiều, sài nó thế nào để khỏi dùng phải hàng dởm, khỏi ngộ độc thức ăn tinh thần.
Cái này nan giải, nhưng phải làm vì nếu không làm , thế hệ trẻ sẽ nhè ra không chịu nuốt dù áp lực bề trên coi đây là sơn hào hải vị bổ béo của văn học  dân tộc. Không gì phi lí hơn khi dạy trẻ, bắt trẻ phải phân tích, bình luận, chứng minh rồi cảm thụ những giá trị ất ơ của cái tư tưởng cũ rich toàn mùi  phong kiến tàu. Không gì phi lí hơn khi tốn tiền chi cho các “nhà” ,các “cái ‘dính đến “ Kiều học “. Lai nhai hằng trăm năm chưa cãi nhau xong vài mươi cái từ nôm do lệ thuộc già nửa gốc chữ Hán nên không biết dịch ra quốc ngữ thế nào. Cứ cãi nhau cái “mày ngài” với ‘mày tằm” của ông anh Từ Hải làm gì không biết.

Cứ dạy văn dạy sử kiểu ngộ nhận tất sẽ thành ngộ độc.

Hay dạy Kiều bằng phim cổ trang làm ké bên TQ để cho lẫn lộn mù mờ một thể. Dạy kiểu ấy có khi lại sinh động, lại hot, người lớn cũng xin học lại Kiều vì thế nào chả làm cảnh Kiều tắm mà “rõ ràng trong ngọc trắng ngà, dày dày đúc sẵn một tòa ..3D”.
Nói dại, tất cả các chuyển thể Truyện Kiều đều hỏng hẳn vì bao nhiêu cái hay ho tinh tế nó nằm ở những câu lục bát tài tình của cụ Tố Như. Mang làm phim, bao nhiêu cái “trong ngọc trắng ngà “đẹp tuyệt vời của ngôn ngữ thi ca nó thành ra cảnh nude , cảnh hot của phim cấp 3  đểu + dởm à.
Mình mà được dạy Kiều thì chỉ xin Bộ Học 3 tiết.
Tiết một : bảo bọn trẻ rằng muốn khá phải “thoát Kiều” như Nhật Bản “thoát Á” hồi đầu thế kỷ XX , mới khá lên được. Còn cứ dính phong kiến tàu thì vào cái năm nhà nó “ bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng” mà nhà khá giả Viên ngoại còn bị bọn bán tơ vu vạ khởi đầu cho “đoạn trường tân thanh” và kết thúc bằng câu triết lý yếm thế xui người ta cam phận, không khá lên được.
Tiết hai : chọn một vài đoạn tiêu biểu nguyên bản “ Thanh tâm tài nhân” rồi so sánh với những câu lục bát Kiều, để thấy cái tài của cụ Tiên Điền đã mở mặt cho cái tác phẩm hạng bét ở bên tàu thành ra những áng thơ văn đậm chất dân tộc  VN đến dường nào.
Tiết ba : chọn ra tất cả những câu Kiều đã trở thành ca dao tục ngữ thành ngữ đang được dân ta dùng hàng ngày đã làm giàu có tiếng Việt. Giảng cho hiểu và học cho thuộc mà nói năng, làm văn cho hay, cho đúng.
Ấy là ước chứ hổng có nằm mơ, ai cho dạy kiểu ấy. Mình bằng lòng với sự mất dạy của mình để các Kiều @ được yên tâm , ổn định với sự nghiệp “đoạn trường”.
Còn mình dạy mỗi con gái võ Vovinam, Karate, khi gặp bọn Mã giám sinh, Thúc sinh, Hồ Tôn Hiến thì cứ tẩn bỏ mẹ chúng nó đi. Đừng có lăn tăn “bên tình bên hiếu” nặng nhẹ gì, cứ sức ta mà cứu lấy ta , thì may ra mới còn cơ mà cứu cha mẹ. À mà chả cần cứu đâu, cha mẹ xong phim rồi, ngồi trên nóc tủ thấy con sướng thì bố chỉ ngắm chuối xanh với gà khỏa thân cũng sướng theo con đấy. Con ạ.

Thứ Năm, 4 tháng 8, 2011

MỘT THỜI ĐẠI KHÔNG QUÊ

Rất vớ vẩn và khó chịu khi phải điền vào một thứ giấy tờ phom phiếc ( form ) nào đó có cái mục “quê quán”. Riêng cái tên mục đã bất nhất : quê quán, nguyên quán , trú quán, sinh quán rồi nơi sinh…
Nơi sinh thì đồng bào sắc tộc ít người bảo : mình xấu hổ lắm, sao lại phải khai ra nơi sinh, ai chả sinh ra ở “đấy”. Đúng là bà con lạc hậu quá, bi giờ người ta chọn ngày đẹp giờ đẹp để mổ đẻ , nên nơi sinh còn có thêm cái vết mổ ở bụng, đâu chỉ ở “cái ấy”.
Quê quán thì chẳng biết có còn dính đến cái “quê hương là chùm khế ngọt” hay “ xưa yêu quê hương vì có chim có bướm”. Cảm thông với những người Việt sống ở nơi xa ngái chân trời góc biển, nhớ quê hương, nhưng Phó Đức Phương lại bảo “ thiếu quê hương ta về, ta về …đâu”. Mà ngẫm nghĩ 1 tí tẹo lại thấy chả cứ thiếu mà thừa quê hương cũng không biết về đâu. Hình như cái món quê hương này chỉ dùng cho người có tuổi. Bọn trẻ đang bay nhảy, đi được đâu càng sướng càng xa càng thích, tiếng Việt nói còn ngọng, nghĩ bằng tiếng Việt còn ngại, chưa hơi đâu mà nhớ quê. Nhưng khi cái già đứng lừng lững đầu giường mới thấy Cali, Paris , Sidney đẹp đẽ giàu có chả để làm gì, chỉ còn thèm bát cơm canh cua đồng quê nhà, thèm một vài người hàng xóm hàn huyên bằng tiếng Việt. Nói chung là vậy nhưng cái quê hương thời này còn phải thu xếp cho tiện nhiều bề, gia đình con cháu còn lo làm ăn thì quê hương các cụ là trại dưỡng lão đừng có mà mơ “lá rụng về cội”.
Đầu tiên, chắc phải nói nguyên quán. Cứ theo logic mà suy, nguyên quán hẳn là cái quê gốc rễ của mình. Nhưng ở cái xứ ta, anh Sơn bảo “biết đâu nguồn cội”, nếu cứ lần ngược theo gia phả dòng tộc thì nguyên quán đứt đoạn giữa chừng trong kí ức thành văn của một cụ gì gì đại ấy. Cứ trở ngược mãi như vậy thì dòng họ Trần oanh liệt 3 lần đánh quân Nguyên phải có nguyên quán tận bên tàu. Mà chả cứ họ Trần, họ nào của mình chẳng thế. Ngoại lệ duy nhất chỉ có họ Hồ của người Vân Kiều là biết chắc nguyên quán ở vùng núi Quảng Trị Thừa Thiên ; nhưng họ Hồ này là phiên bản là nickname vì bà con vốn không có họ nên nhận họ theo Cụ Hồ mà thôi.
Các ông làm nghề tổ chức nhân sự có muốn thọc mạch đến đâu về chuyện nguyên quán thì cũng phải có chừng có mực mà đặt ra lệ hỏi nguyên quán từ đời nào, vì ở ta nguyên quán đời ông khác xa đời cụ kị cả trăm ngàn Km.
Dẫn chứng thế này nhé, bây giờ hỏi nguyên quán ông vua Bảo Đại ở đâu ?
Thích thì bảo ở Huế.
Thích nữa thì bảo ở Thăng Long ( nếu tính Nguyễn Kim Nguyễn Hoàng )
Thích nữa nữa thì bảo ở Hà Trung Thanh Hóa.
Thừa quê hương nên ông ấy không biết về đâu, đành ở Pháp,  rồi gửi nắm xương tàn nơi cựu mẫu quốc.
Một vài bác công chức cán bộ tỏ ra rành rọt quy định bằng mồm là : quê quán thì ghi cái nơi ở ( cũng có thể là nơi sinh ) của ông nội. Cái này đúng tư duy  lí lịch 3 đời. Nhưng kì thực chả có ý nghĩa quái gì. Vì :
Nếu là “nơi sinh” thì  của ông nội cũng giống “nơi sinh “thằng cháu nội thôi.
Còn là nếu nơi ông ở thì nói lên được cái gì. Giả dụ nơi ở là Lệ Thủy Quảng Bình thì khi sống với quốc gia phải khai là cùng quê Ngô tổng thống hay khi sống với VC lại khai đồng hương với Võ đại tướng à. Nói vậy chứ, ối thằng xu thời nó khai kiểu đó.
Rồi đến sinh quán, cái này có vẻ rõ hơn một tẹo, chắc là bảo mày khai ra : đẻ ở địa phương nào. Tưởng dễ thôi vì gần gũi với chính mình, hóa ra cũng linh ta linh tinh cực phần hài hước. Đọc thấy rất nhiều lý lịch ghi : Nhà thương Từ Dũ, BV Phụ sản,  Hộ sinh cây đa Nhà Bò. Nhớ 1 chuyện cũ nhưng thật 100%, xếp bắt lính khai lý lịch, có thằng ít học nó cứ hỏi xoáy, xếp đáp xoay : mẹ mày đẻ mày ở trạm xá xã thì cứ ghi như thế  ( ông này quá giỏi biết chặn trước , gợi ý khéo kẻo nó lại khai bậy ). Ấy thế vẫn không thoát thằng quái, nó bảo dưng cơ mà u em đẻ rơi em ngoài ruộng lúc đang đi cấy, chẳng nhớ ở cánh đồng Chù hay cánh đống Cao thì em ghi thế nào . Hở xếp.
Barack Obama chẳng biết ghi CV tranh cử tổng thống thì khai sinh quán ở đâu , Indonesia hay USA, hay phải khai cả Kenya, mà chắc chắn cái này chẳng thêm được vài ba lá phiếu quyết định. Khác hẳn dân mình cứ biết vanh vách ông to nào quê đâu.
Ối quan to, đại gia đọc lý lịch thì toàn sinh quán quê hương cách mạng nghèo đói Thanh Hóa, Nghệ An ,Hà Tĩnh, Bắc Cạn, Bến Tre, Quảng Ngãi nhưng giờ toàn chễm chệ ở Ba Đình HN hay Phú Mỹ Hưng SG chẳng còn chút dây tơ rễ má gì với cái chùm khế lúc đắng lúc ngọt .
Thế mà cứ bắt nhau khai ra sinh quán, nó nhiều “tâm trạng não trạng” lắm, lúc thì khoe, khi phải dấu, lúc “tự hào” khi ngán ngẩm .
Rồi đến trú quán, cái này thì rõ nghĩa và hợp pháp là phải có , chứ không thành lang thang cơ nhỡ vô gia cư, phải vào “trại”à . Nhưng rõ với nước nào kia, chứ nước mình còn chán mới rõ vì thừa thãi sự hiểu và sự hành ,  vì khái niệm này hầm bà làng với địa chỉ, chỗ ở , hộ khẩu thường trú, tạm trú, tạm vắng KT 2,3,4..n gì gì đấy. Nghĩa là muốn nói cái chỗ anh đang ở nhưng “nói dzậy mà không phải dzậy “, vì chỗ đang ở chưa chắc đã là hộ khẩu thường trú . Người có hộ khẩu thường trú ở Nhật Tân có khi lại  đang ở tận Nhật Bản. Cái hộ khẩu này nó sống chết phải giữ từ thời tem phiếu di truyền đến tận giờ nên nhiều người theo công việc, học hành, theo con theo cháu đi tận đẩu tận đâu vẫn cứ giữ cái gọi là hộ khẩu thường trú. Còn người tỉnh lẻ có tiền mua nhà chung cư cao cấp tại HN, SG thì cứ tạm trú dài dài nơi ở thật. Cái nơi mình ở thật với cái nơi   ở trên giấy li thân li hôn với nhau hoàn toàn.
Túm lại ở xứ ta, cái điều đơn giản luôn luôn được làm cho phức tạp vì không bày ra cho phức tạp thì dân cần gì đến nhà quản lý khi họ buộc phải làm những dịch vụ công liên quan đến căn cước pháp lý một con người công dân. Những nhiễu nhương phiền hà thì miễn bàn vì có bàn chẳng được.
Chỉ buồn buồn cám cảnh vì cái trò chơi rắc rồi này nó bào mòn, nó phá hỏng tan hoang một tình cảm tự nhiên của con người về quê hương gốc rễ thân thuộc đã ăn vào máu thịt. Người HN thật bây giờ chỉ thấy lại HN như quê mình vào dịp Tết khi những người xứ khác họ về quê họ, trả lại một không gian yên lành như…xưa. Cái nơi mình gắn bó tự nhiên nhất , mang đầy kỷ niệm cuộc đời để thành quê, thành nhà mình bị cơn bão thời đại gì đó không thể gọi đúng tên nữa,  tàn phá thành ra một vùng đất để ở trọ , để làm nhà nghỉ , để kiếm sống, để tranh giành không gian sống và trút vào đó mọi rác thải cuộc đời.
Hay tại cái ông nhà thơ “ khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn “. Nói thế bằng đuổi ta đi thành kẻ tha hương à, mà đất nào cho “hóa tâm hồn” đây ?
Có nhẽ thế thật khi ông bà quê quán VN, cha mẹ đẻ bên Lào, con sang Mỹ thì mới có đời cháu đã thành sinh quán : Boston Massachusetts Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. 
Xin nói 1 câu, vừa là câu hỏi nhưng cũng là câu trả lời :
Từ nay trở đi, đố một ông nhạc sĩ nào dù có tài đến đâu sáng tác được một bài hát hay về Hà Nội trừ phi làm nhạc chế kiểu “ HN mùa này phố cũng như sông cái rét đầu đông em tôi bơi trong nước lạnh…”.

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2011

PHỞ : LÀM TIẾP BÁT NỮA

( Tiếp theo " Phở : những điều hay và những cái dở " )
Phở và sự hòa giải hòa hợp :
Từ cái nghèo mà biết thương yêu nhau một cách rất ngon và cực kì thiết thực là phở ăn với cơm nguội. Cơm nguội thì chán như cơm nguội, chữa thành cơm rang ( chiên ) chỉ ăn tạm được 1 lần vì ngấy và  khô khan ," điện nước  không đầy đủ ". Ghi nhớ công lao một liệt sĩ vô danh đã nghĩ ra cách mua phở về ăn với cơm nguội. Thật tuyệt vời đáng được ghi vào menu cao cấp vì gã cơm nguội này đã nhiều lần chứng kiến nhà giàu Hà Nội thứ thiệt rất khoái món này. Mấy khi trong CƠM có PHỞ và trong PHỞ lại có cả CƠM. Mà lại rất quyện với nhau, nâng nhau lên ( không dìm hàng nhau như dân sao giăng gì đó ). Phở cơm nguội, hãy ăn thử một lần thì biết hỡi các đại gia chán cả cơm lẫn phở.
Phở không kì thị giàu nghèo hay chủng tộc:
Đây là giá trị nhân văn cao cả mà phở mang lại cho con người. Khi mà Pizza, Spaghetti, Hamburger , Hotdog, Sushi,.... chỉ dành cho người có tiền và dân sành điệu thì tổng thống Mỹ lẫn anh xe ôm đều ngang phân nhau khi vào hàng phở. Phở là cái bình dân, dân dã lên ngôi bằng chính chất lượng ẩm thực, không có chỗ cho màu mè, tiện nghi sang trọng chiếm chỗ. Không có nơi nào mà complet cravat hàng hiệu ngồi trong restaurant máy lạnh để ăn phở lại bị "quê" đến "vài cục "chứ không chỉ "quê một cục "khi muốn ăn phở theo đúng nghĩa thưởng thức một món ăn đậm đà bản sắc dân tộc...phở mà lại dở dói lai căng tiện nghi thời thượng. 
Phở và giá trị thực dụng : 
Từ thủa ban đầu là hàng quà, phở "lên sàn"để thâm nhập vào mọi ngõ ngách cuộc sống và chiếm thị phần đáng nể trong ngành hàng ăn. Phở có thể ăn bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu , cho bất cứ người nào. Này nhé, các cụ già dậy sớm đi tập thể dục cũng có quyền mời "phở" đi ăn phở như một món quà sáng. Bữa trưa, ai chả có lần đưa"cơm' đi ăn phở hoặc mời "phở" đi ăn phở như một bữa ăn trưa nhẹ nhàng , thú vị và không kém lãng mạn khi được nhìn ngắm vài giọt mồ hơi rơi trên má em hừng đỏ. Bữa tối và bữa ăn đêm thì lại càng lãng mạn đậm đà mùi phở, khi đêm đông thay vì nghe ca khúc Nguyễn Văn Thương hãy dẫn "ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng" vào hàng phở đêm , lãng mạn và ép-phê hơn nhiều. Gã cơm nguội suýt nữa lấy được con gái một họa sĩ nổi danh khi đưa nàng dạo gót Tây Hồ rồi dụ dẫn vào hàng phở, nàng đắm đuối đến 99% vì phở đêm ấy cực ngon, nước dùng ngọt thanh tao, bánh phở nuột nà rười rượi, hỏng mỗi 1 % vì máu quá "hun" nàng khi vẫn còn dính cọng hành trên răng chưa kịp xỉa.
So ra thì thấy, làm gì có ai điên đi ăn Sushi từ bảnh mắt hay Pizza lúc nửa đêm, ấy là chưa kể cái cách thưởng ngoạn món ăn nó đi chệch quỹ đạo yêu đương.
Phở và tấm lòng tình nghĩa :
Kẻ ốm o bệnh tật nào chả có lần được dinh dưỡng món phở như một thực đơn y học mang nặng nghĩa tình người thân chăm sóc, cho dù bọn nó bận đi làm bỏ mẹ, chỉ kịp xách cặp lồng mua vội bát phở mang tận giường cho mình húp xì xoạt. Ăn được bát phở toát mồ hôi  là bệnh bay đi già nửa. Về giá trị chữa bệnh, phở là hơn đứt cháo hành kiểu Thị Nở. Cái này miễn bàn vì phở là 2 chiều cho cả gái chăm trai và trai chăm gái, còn cái kia chỉ thấy Nở chăm Phèo chứ hổng thấy ông Nam Cao kể Phèo bưng cháo chăm Nở.
Một giấc mơ phở :
Một ngày nào đó, Hội nghị Hòa giải hòa hợp dân tộc long trọng họp tại một hàng phở không máy lạnh để những người con đại diện xứng đáng của dân tộc ngồi lại bên nhau cùng thưởng thức tất cả các món phở do người Việt sáng tạo ra và khi bế mạc thành công cùng đứng lên nghiêm trang chào lá Phở kỳ cùng đồng giọng hát Phở ca.



Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

PHỞ : NHỮNG ĐIỀU HAY VÀ NHỮNG CÁI DỞ

Việt Nam thống nhất được với nhau về món phở, dù anh VC trong nước hay kiều bào hải ngoại.
Ít nhất là bằng lòng với nhau về tên gọi món đặc sản. Một trong hai danh từ mà các ngoại ngữ tây tàu phải giữ riêng không dịch, chỉ để nguyên văn là "pho" và "ao dai".
Cũng hơi lạ khi nhìn ra thế giới, cái cống hiến của người Việt cho nhân loại lại là 1 cái ăn và 1 cái mặc, có phải vì cha ông ta thủa xưa đói và rách ?
Một vài suy nghĩ vụn vặt về cái cống hiến nửa hay nửa dở của cái Phở này do cái sự vừa thống nhất lại vừa đa dạng đến mức hay chạnh chọe nhau của người tình phở...............
Phở với lịch sử nước nhà : mới ngót nghét 1 thế kỷ mà đã không xác nhận được tên gọi do đâu mà thành tên phở, từ đâu từ gốc rễ nào phát sinh thành món phở. Sao mà giống lịch sử nước mình thế cũng mới đây vài mươi năm  đã không phân địnhn nổi cái xe tăng number one vào dinh Độc lập hay trẻ con học sử chỉ biết non nửa lịch sử nước VN còn nửa kia của dân nước ta về mọi mặt không được đụng bát đụng đũa đến.
Phở với thời mở cửa : sang Mỹ bang Cali biến hóa thành phở tàu hỏa một tô to tổ chảng hai người Việt ăn mới hết hay phở Kobe 40 USD ở Hà Nội ngay giữa thời lạm phát.
Phở với thời bao cấp và chiến tranh : dân Hà Nội có máu hài hước gọi là phở không người lái cho 1 thứ phở bần hàn chỉ có bánh phở chan với 1 thứ nước dùng bột ngọt ( mì chính ).tuyệt nhiên không có tí thịt tí xương tương đương với tàu bay trinh thám Mỹ không có người lái.
Một biến thể nữa của phở hồi này là phở trứng và phở thịt chó. Ăn thấy hãi và nghe cũng hãi vì phở trứng là phở không người lái kèm theo trứng tráng ( chiên ) thái chỉ phủ lên trên.. Còn phở thịt chó tất nhiên là thịt chó, còn đâu cái thanh tao của phở nguyên bản.
Phở với cải lương : từ cái ban đầu chỉ là phở bò chín , phở được cái sáng / tối kiến bình dân tỉnh lẻ chế ra phở mọc, phở gà, phở nấm.lại đập thêm quả trứng trần. Các chư vị thượng lưu thì chê bằng giọng văn nghệ sĩ " cái này cải lương lắm " còn bà con bình dân dễ ăn dễ ngủ dễ thưởng thức thì thấy cũng ngon ngon, lạ lạ, bổ bổ.
Phở với cộng đồng ASEAN : sang Lào, Cămpuchia, Thái lan. phở mang nickname là" hủ tiếu, cuỗi tiểu" kèm thịt lợn, lòng lợn, giá sống nhưng vẫn được bà con Việt kiều mình gọi là phở .
Phở giao lưu : khi phở Bắc vào sống trong Nam phải có thêm giá trụng, giá sống, rau ngò, rau húng thì dân trỏng mới chịu ăn , còn ăn phở không có rau có giá xin mời ra bắc.
Phở với văn nghệ sĩ : là cảm hứng đầy chất văn hóa ăn uống khi các cây đa cây đề Nguyến Tuân, Thạch Lam, Tô Hoài , Vũ Bằng và hàng người người lớp lớp văn sĩ viết về phở với đủ phong vị khen chê, "phở luận" khác nhau mà ai cũng cho là mình mới là người sành phở nhất, còn ăn phở kiểu người khác là "vứt".
Phở với gene di truyền bảo thủ : khi có người chỉ ăn và coi trọng phở bò chín mới là con đẻ, còn tất cả các loại phở khác đều là con nuôi.
Phở với tình yêu, hôn nhân gia đình và sex : khi đồng loạt bên nguyên , bên bị trong các vụ li hôn hay cãi nhau vì tình đều coi phở là bồ, là ngoại tình, là rất ngon nhưng không ăn được cả đời như  cơm là vợ / chồng . Tuy vậy, đẻ ra được một câu triết lí vụn nghe cũng được :" sáng đưa cơm đi ăn phở, trưa đưa phở đi ăn cơm".
Phở với lao động tiền lương  : khi tiền lương tiền công được tình theo đơn vị phở, chứ không qui ra VN đồng hay USD. Một câu than của một GS-BS : tiền mổ một ca bệnh nhân cấp cứu chỉ được 1 bát phở.
Phở cũng thành tỷ giá hối đoái khi giá cả 1 bát phở quy thành bao nhiêu Bạt Thái, Kíp Lào, Euro, Rien CPC hay đô-la Mỹ , tính kiểu phở cho nó nhanh dễ hiểu và thực chất, công đâu vòng vo đánh đu với lạm phát .
Phở với sự chia rẽ : khi không ngồi lại với nhau thành hiệp hội Phở  đặng đủ sức mà cạnh tranh với spagetti Ý nên phở đã lang thang khắp cùng trời cuối đất mà vẫn mạnh ai nấy làm và kèn cựa chê bai nhau . Anh hàng phở nào cũng tự cho mình là phở nhất còn phở thiên hạ là cái đinh rỉ.
Bánh phở hôm nay sao dai và thái dài quá, ăn lâu quá nó trương ra mất ngon. Để mai làm bát khác nhé.












V

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2011

HAI CÁI LỖ ĐẠN Ở CỬA BẮC THÀNH HÀ NỘI CŨ


Một ngày Hà Nội, lẩn thẩn dạo phố Phan Đình Phùng, tự dưng đứng trước Cửa Bắc thành HN cũ. Ngắm rồi chợt nghĩ, lại cũng nghĩ rất chi là lẩn thẩn.
Có một câu chuyện khá xưa, nay cần kể lại kẻo lớp trẻ sau này không biết.
Mà chẳng cứ trẻ, già mà thờ ơ vô cảm thích ra oai bắn súng lục vào lịch sử thì cũng cóc thèm biết.
Ấy là ; Sau khi Cửa Bắc thành Hà Nội ăn phải 2 con đạn đại bác của thực dân Pháp, binh tướng Nhà Nguyễn với thần công khấn vái  đốt đít, với súng hỏa mai gươm dáo anh dũng tử thủ theo thành, thì mất thành mất nước. Nhân tiện kể thêm là giặc Phú Lang Sa còn biết dùng chiêu mua chuộc các chú khách ba tàu buôn bán ở vùng kẻ chợ làm nội gián trong cuộc chiến đánh thành.
Cửa Bắc mang 2 vết đạn đến giờ còn đó như một bài học trực quan về lịch sử.
Nhưng chuyện là, ngay sau lúc mất thành, một sáng mai ra, dân tình thấy cái lỗ đạn bên dưới đã bị vôi vữa lấp lại. Hôm sau , lại thấy bị đục ra. Hôm sau nữa lại thấy lấp lại kèm theo một áng văn thơ minh định rằng phải xóa đi cái nỗi nhục mất nước hiện hình trong vết thương đạn ấy của thành. Lại hôm sau nữa, cái vết thương-đau ấy lại bị khoét ra với một áng thơ-văn yêu nước lý sự rằng phải để nguyên dấu tích đấy mà khêu gợi lòng căm thù giặc mà kích động lòng yêu nước của dân. Lại hôm sau nữa nữa, lại khoét ra, lấp lại, lại thơ văn bút chiến cò cưa bất phân sai đúng thắng bại. Lâu rồi, chán chả biết final ra sao, cũng chẳng có comment nào lưu trong sử sách để rõ ràng một thái độ của kẻ sỹ Bắc thành với thực trạng mất nước.
Cái buồn mà cười thứ nhất : vì một hoàn cảnh nghèo nàn bó tay.com mà cái bác "lấp" không có nổi cái thang mà lấp cả cái vết đạn trên cao, thành ra sĩ khí nửa vời, lực bất tòng tâm, chỉ sinh ra hậu quả mà không kết quả nào cho ra tấm ra miếng để đời.
Cái buồn thứ hai mà không cười được : bác "lấp" và bác "khoét" xoay ra cãi nhau dù rằng cãi rất chi là trí thức bằng ngôn ngữ văn học ( dòng yêu nước hẳn hoi ). Hai bác cứ lấp khoét cãi nhau, tây nó chẳng thèm biết, triều đình bù nhìn cũng chẳng bõ quan tâm.Chỉ dân mình là uất ức ngác ngơ lâu ngày : quên. Hóa bùn.
Chỉ còn trơ lại đó một vết thương để đời nhưng là một bài học lịch sử mãi mãi còn nguyên giá trị răn dạy.
Hiền tài nguyên khí quốc gia không phò minh quân giúp nước , mà chỉ để tạc danh trên bia đá bắt "cụ bà" rùa hồ HK cõng trên lưng,  thì chỉ còn mỗi cái tích sự cho con cháu khoa bảng đời @ nó vào sờ nhẵn đầu mỗi vụ thi cử nặng mùi thành tích ( cho quan đốc học )  và mê tín tử vi bói toán ( cho phụ huynh ).
Thời buổi này, nếu không chấn hưng để có thực lực thì cái sự học làm quan nó thành ra quan liêu quan tham trong khi dân nước cần những khối óc bàn tay làm ra sản phẩm có giá trị đích thực.
Cái sự cãi nhau của hai bác sỹ phu ấy nó có phải là gene trội của dân mình không mà sao thấy di truyền bảo thủ đến tận giờ. Sự kiện, nguy cơ thì kẻ thất phu cũng nói được vanh vách, mà sao kẻ trên người dưới, nội địa hải ngoại, kẻ giàu người nghèo..., túm lại là dân mình sao cứ loay hoay nghi kỵ đối phó tranh khôn tranh dại với nhau mà thiếu hẳn đi một cái keo sơn gắn kết. Kẻ ngoại bang và lớp trẻ nó cười vào mũi.
Chẳng nhẽ cái phúc phận dân nước mình chỉ có thế, chỉ đến thế.
Còn lại mỗi hình ảnh người mẹ bồng con đứng dưới chân thành mà như vọng phu hóa đá.